Đăng ký   |   Đăng nhập   |   Hướng dẫn đăng sản phẩm
    Danh mục
LINDYNETTE 20
LINDYNETTE 20
Tên thuốc: LINDYNETTE 20
Thuộc loại: Tránh thai
Nhà Phân phối: Thuốc ngoại nhập
LINDYNETTE 20<span style="color: rgb(255,0,0)"<strongLINDYNETTE 20</strong</span<strong </strongThuốc ngừa thai uống kết hợp, t&aacute;c dụng chủ yếu bằng c&aacute;ch ức chế tiết gonadotropin.....LINDYNETTE 20
THÔNG TIN CHI TIẾT SẢN PHẨM

THÔNG TIN CHI TIẾT SẢN PHẨM LINDYNETTE 20:

Thành phần
: Mỗi viên bao chứa:

nylestradiol..................................0.02mg
gestodene.....................................0.075mg

DƯỢC LỰC

Thuốc ngừa thai uống kết hợp, tác dụng chủ yếu bằng cách ức chế tiết gonadotropin. Mặc dù cơ chế tác động chủ yếu là ức chế sự rụng trứng, nhưng những cơ chế khác bao gồm thay đổi chất nhầy cổ tử cung (cản trở sự di chuyển tinh trùng vào tử cung) và nội mạc tử cung (làm giảm khả năng làm tổ của hợp tử) làm tăng tác dụng ngừa thai.

Ngoài tác dụng tránh thai, thuốc ngừa thai còn có vài tính đặc điểm tích cực khác:

Tác dụng lên kinh nguyệt:

Chu kỳ kinh nguyệt trở nên đều hơn.
Giảm mất máu và thiếu máu do thiếu sắt.
Giảm thống kinh.

Tác dụng liên quan đến ức chế rụng trứng:

Giảm u nang buồng trứng chức năng.
Giảm thai lạc vị.

Các tác dụng khác:

Giảm u tuyến xơ và u xơ nang hóa tuyến vú.
Giảm viêm chậu.
Giảm ung thư nội mạc tử cung.
Giảm mụn.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Gestodene:

Hấp thu: Sau khi uống, gestodene được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 2-4 ng/ml, đạt được sau khoảng 1 giờ. Sinh khả dụng khoảng 99%.

Phân phối: Gestodene gắn với albumin huyết tương và SHBG. Chỉ có 1-2% nồng độ huyết tương toàn phần của chất này là steroid tự do, 50-75% gắn đặc hiệu với SHBG. Sự tăng SHBG do cảm ứng ethinylestradiol ảnh hưởng đến lượng gestodene gắn vào protein huyết tương dẫn đến sự gia tăng gắn kết với SHBG và giảm phần gắn với albumin. Thể tích phân phối biểu kiến 0,7-1,4 l/kg.

Chuyển hóa: Gestodene được chuyển hóa hoàn toàn qua chu trình steroid đã biết.
Độ thanh thải chuyển hóa trung bình là 0,8-1,0 ml/phút/kg.

Thải trừ: Nồng độ huyết tương của gestodene giảm theo 2 pha. Pha phân phối cuối cùng được đặc trưng bởi thời gian bán thải 12-20 giờ. Chỉ có các chất chuyển hóa này được thải trừ qua nước tiểu và mật theo tỷ lệ 6:4. Thời gian bán thải chất chuyển hóa khoảng 1 ngày.

Nồng độ ở trạng thái ổn định:Dược động học gestodene bị ảnh hưởng bởi nồng độ SHBG, nồng độ SHBG có thể tăng gần gấp ba lần khi dùng với ethinylestradiol. Sau khi uống mỗi ngày nồng độ huyết tương tăng gấp 3-4 lần và đạt nồng độ ở trạng thái ổn định ở nửa sau của chu kỳ điều trị.

Ethinylestradiol:

Hấp thu:
Sau khi uống, ethinylestradiol được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 30-80 pg/ml, đạt được trong vòng 1-2 giờ. Do sự liên hợp tiền hệ thống và tác dụng chuyển hóa đầu tiên mà sinh khả dụng tuyệt đối của ethinylestradiol khoảng 60%.

Phân phối:
Ethinylestradiol liên kết mạnh nhưng không đặc hiệu với albumin huyết tương (khoảng 98,5%) và làm tăng mạnh nồng độ SHBG trong huyết tương. Thể tích phân phối biểu kiến từ 5-18 l/kg.

Chuyển hóa:
Ethinylestradiol được chuyển hóa chủ yếu bằng cách hydroxyl hóa vòng thơm. Nhiều chất chuyển hóa hydroxyl hóa và methyl hóa được tạo ra dưới dạng những chất chuyển hóa tự do hoặc liên hợp glucuronid và sulphat. Tốc độ thanh thải chuyển hóa khoảng 5-13 ml/phút/kg.

Thải trừ:
Nồng độ huyết tương của ethinylestradiol giảm theo 2 pha, pha phân phối cuối cùng được đặc trưng bởi thời gian bán thải khoảng 16-24 giờ. Chỉ có các chất chuyển hóa được thải trừ qua nước tiểu và mật theo tỷ lệ 2:3. Thời gian bán thải các chất chuyển hóa khoảng 1 ngày.

Nồng độ ở trạng thái ổn định:
Nồng độ ở trạng thái ổn định đạt được sau 3-4 ngày, khi nồng độ huyết tương của thuốc này cao hơn khoảng 20% nồng độ sau khi dùng liều đơn.

AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG

Trong những nghiên cứu dung nạp hệ thống với liều lặp lại, không gặp bất kỳ ảnh hưởng nào chỉ ra những nguy cơ ngoài dự kiến cho người.
Những nghiên cứu độc tính trường diễn không chỉ ra bất kỳ tiềm năng gây ung thư nào với liều điều trị ở người. Tuy nhiên, cũng cần nhắc lại rằng các steroid sinh dục có thể làm tăng sự phát triển các mô và bướu phụ thuộc hormon nào đó.
Những nghiên cứu độc tính phôi và gây ung thư của ethinylestradiol, sự lượng giá ảnh hưởng của phối hợp thuốc lên khả năng sinh sản của thú cha mẹ, phát triển phôi, cho con bú và sự sinh sản của thế hệ con cháu không chỉ ra bất kỳ nguy cơ tác dụng bất lợi nào ở người với liều khuyến cáo. Nếu vô tình dùng thuốc sau khi đã thụ thai, cần ngừng thuốc ngay.
Những nghiên cứu in vitro và in vivo đã tiến hành với ethinylestradiol và gestodene không cho thấy tiềm năng gây đột biến.

CHỈ ĐỊNH

Thuốc uống ngừa thai.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không dùng thuốc ngừa thai uống trong những trường hợp sau:

- Đã biết hoặc nghi ngờ mang thai.
- Có tiền sử huyết khối động tĩnh mạch (ví dụ: huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi, tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim).
- Có những yếu tố nguy cơ phát triển huyết khối hoặc tắc mạch (rối loạn đông máu, bệnh van tim, rung nhĩ).
- U tuyến hoặc carcinome gan, bệnh gan trầm trọng.
- Tiền sử ung thư nội mạc tử cung hoặc vú.
- Xuất huyết âm đạo bất thường không chẩn đoán được.
- Tiền sử vàng da ứ mật hoặc ngứa trong khi mang thai hoặc trong khi dùng các thuốc ngừa thai kết hợp trước.
- Tiền sử herpes thai kỳ.
- Xơ cứng tai trở nặng khi mang thai.
- Thiếu máu tế bào hình liềm.
- Tăng lipid máu.
- Cao huyết áp nặng.
- Tiểu đường biến chứng mạch.
- Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Hội chứng Dubin-Johnson và Rotor.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG VÀ THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Chú ý đề phòng:

Thông tin trong phần này chủ yếu dựa trên những nghiên cứu được tiến hành ở những phụ nữ dùng thuốc ngừa thai hàm lượng hormone cao hơn những chế phẩm hàm lượng hormon thấp đang dùng ngày nay.

Những rối loạn tuần hoàn:

Dùng thuốc ngừa thai liên quan đến tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Nguy cơ này cao hơn ở những người nghiện thuốc lá mang những yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành, cao huyết áp, cholesterol máu cao, béo phì bệnh lý và tiểu đường.

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ các biến chứng tim mạch nặng của thuốc ngừa thai. Nguy cơ này tăng theo tuổi và trong trường hợp nghiện thuốc lá nặng, và nguy cơ này khá cao ở những phụ nữ trên 35 tuổi. Người dùng thuốc ngừa thai nên bỏ thuốc lá.

Thuốc ngừa thai phải được dùng thận trọng ở những người có yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tim mạch.
Người ta đã xác nhận rằng thuốc viên ngừa thai làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch não (đột quị do thiếu máu và do xuất huyết).

Cao huyết áp đã gặp ở những người dùng viên thuốc ngừa thai, và khuynh hướng này tăng ở những người cao tuổi và dùng dài hạn.
Các dữ kiện cho thấy rằng tần suất cao huyết áp tăng theo lượng estrogen.

Những người đã từng bị cao huyết áp hoặc những rối loạn liên quan đến cao huyết áp hoặc mắc bệnh thận nên dùng biện pháp ngừa thai khác. Nếu người cao huyết áp chọn viên thuốc uống ngừa thai, họ phải được giám sát kỹ, và nếu huyết áp gia tăng phải ngừng thuốc ngay.

Trong đa số trường hợp, huyết áp đã tăng sẽ trở về bình thường sau khi ngừng thuốc ngừa thai, và không có sự khác biệt nào về biểu hiện cao huyết áp giữa những người đã từng dùng thuốc ngừa thai với những người chưa từng dùng thuốc ngừa thai.

Dùng bất kỳ loại thuốc ngừa thai uống kết hợp nào cũng mang một nguy cơ cao về huyết khối thuyên tắc mạch so với không dùng. Nguy cơ vượt trội về huyết khối thuyên tắc mạch cao nhất là trong năm đầu tiên bắt đầu dùng thuốc ngừa thai. Nguy cơ này nhỏ hơn nguy cơ huyết khối thuyên tắc mạch đi kèm với mang thai, được ước lượng khoảng 60 trên 100.000 trường hợp mang thai; huyết khối thuyên tắc mạch gây tử vong trong 1-2% trường hợp.

Đối với các thuốc ngừa thai uống kết hợp chứa levonorgestrel với ít hơn 50 mcg ethinylestradiol, tần suất huyết khối thuyên tắc mạch là khoảng 20 trường hợp trên 100.000 phụ nữ dùng thuốc một năm. Với viên chứa gestodene tần suất này là khoảng 30-40 trường hợp trên 100.000 phụ nữ dùng thuốc một năm. Tần suất mắc phải huyết khối thuyên tắc mạch sẽ cao nhất trong năm đầu tiên bắt đầu dùng thuốc ngừa thai.

Nguy cơ mắc huyết khối thuyên tắc động mạch và/hoặc tĩnh mạch tăng theo:

- Tuổi.
- Nghiện thuốc lá (ở những người nghiện nặng và tuổi cao thì nguy cơ này tăng thêm, đặc biệt ở những người trên 35 tuổi).
- Khuynh hướng di truyền dương tính (ví dụ, huyết khối thuyên tắc động tĩnh mạch ở chị em hoặc cha mẹ ở tuổi tương đối trẻ). Nếu nghi ngờ khuynh hướng di truyền, phải tham vấn chuyên gia trước khi quyết định dùng hay không dùng thuốc ngừa thai.
- Béo phì (BMI > 30 kg/m2).
- Loạn dưỡng lipoprotein máu.
- Cao huyết áp.
- Bệnh van tim.
- Rung nhĩ.
- Nằm bất động kéo dài, đại phẫu, phẫu thuật chân hoặc chấn thương nặng. (Vì trong thời gian hậu phẫu nguy cơ huyết khối thuyên tắc mạch tăng cao, nên ngừng thuốc ngừa thai ít nhất 4 tuần trước phẫu thuật chọn lọc và chỉ được dùng lại sau 2 tuần hồi phục vận động hoàn toàn).

Ngừng thuốc ngay nếu gặp những triệu chứng huyết khối: đau trầm trọng ở ngực lan dần đến tay trái, đau bất thường ở chân, sưng chân, đau gắt khi thở hoặc ho, đàm có máu.

Các tham số chỉ ra huyết khối động hoặc tĩnh mạch do di truyền hoặc mắc phải bao gồm kháng protein-C hoạt hóa (APC), tăng homocystein máu, suy giảm antithrombin-III, suy giảm protein-C, suy giảm protein-S, các kháng thể antiphospholipid (các kháng thể anticardiolipine, chất chống đông máu lupus).

Bướu:

Nguy cơ cao về ung thư cổ tử cung ở những người dùng thuốc ngừa thai kết hợp dài hạn đã được báo cáo trong một số nghiên cứu, nhưng kết quả đang bàn cãi. Hành vi tình dục và những yếu tố khác như vi rút papillomatous người (HPV) cũng có thể ảnh hưởng đến sự xuất hiện ung thư cổ tử cung.

Phân tích mê ta từ 54 nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ tương đối của ung thư vú tăng nhẹ ở những người dùng thuốc ngừa thai uống kết hợp. (RR = 1,24). Nguy cơ này giảm dần trong 10 năm sau khi ngừng thuốc ngừa thai uống kết hợp. Tuy nhiên, những nghiên cứu này không chứng minh được quan hệ nhân quả.

Ung thư vú chẩn đoán được ở những người dùng viên thuốc ngừa thai ở một giai đoạn lâm sàng sớm hơn ở những người không dùng.

U tuyến gan lành tính liên quan đến dùng viên thuốc ngừa thai, mặc dù tần suất những khối u lành tính này rất hiếm. Nếu những khối u này vỡ, có thể gây xuất huyết nội chết người.
Hiếm khi gặp khối u gan ác tính ở những người dùng thuốc ngừa thai uống lâu dài.

Các rối loạn khác:

Rất hiếm gặp huyết khối võng mạc trong khi dùng thuốc uống ngừa thai. Phải ngừng thuốc ngay khi gặp mất thị giác một phần hoặc hoàn toàn không giải thích được, biểu hiện lồi mắt hoặc song thị, phù gai thị hoặc tổn thương mạch võng mạc.

Những nghiên cứu trước đây đã báo cáo một nguy cơ tương đối suốt đời về bệnh túi mật ở những người dùng viên thuốc ngừa thai và các sản phẩm chứa estrogen. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng nguy cơ tương đối về bệnh túi mật có thể giảm đi nhiều ở những người dùng viên ngừa thai liều thấp.
Xuất hiện hoặc trầm trọng thêm chứng nhức nửa đầu hoặc xuất hiện nhức đầu theo cách khác, tái phát, kéo dài hoặc nặng, cần phải ngừng thuốc ngừa thai ngay.

Phải ngừng dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30 ngay trong trường hợp ngứa toàn thân, hoặc động kinh.

Tác động lên chuyển hóa carbohydrat và lipid:

Đã gặp suy giảm dung nạp glucose ở những người dùng thuốc ngừa thai. Theo đấy, những người tiểu đường phải được giám sát kỹ khi dùng thuốc thuốc ngừa thai.

Một số ít người bị chứng tăng triglycerid máu vĩnh viễn khi uống thuốc ngừa thai. Hàm lượng HDL huyết thanh giảm khi dùng một số thuốc chứa progesterone. Vì estrogen làm tăng HDL-C, nên tác dụng của thuốc ngừa thai trên chuyển hóa lipid phụ thuộc vào cân bằng estrogen - progestogen, loại progestogen và số lượng tuyệt đối của progestogen trong viên thuốc ngừa thai.

Những người tăng lipid máu phải được giám sát kỹ nếu chọn dùng thuốc ngừa thai. Trong số những người bị chứng tăng lipid máu có tính cách gia đình và dùng thuốc ngừa thai chứa estrogen, đã gặp sự tăng đáng kể về triglycerid huyết tương, có thể dẫn đến viêm tụy.

Rối loạn kinh nguyệt:

Có thể gặp kinh nguyệt thất thường (xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa kỳ kinh) trong khi dùng thuốc nhất là trong 3 tháng đầu tiên.

Nếu tình trạng này kéo dài hoặc gặp sau những kỳ kinh bình thường, thì nên xét đến những nguyên nhân không hormon và khám phụ khoa để loại trừ khả năng ung thư hoặc mang thai. Nếu không phải do bệnh lý, nên đổi qua thuốc ngừa thai khác.

Đôi khi không gặp kinh nguyệt ở khoảng thời gian nghỉ dùng thuốc. Nếu đã không dùng thuốc theo đúng chỉ dẫn trước lần mất kinh đầu tiên, hoặc nếu không hành kinh vào lúc cuối chu kỳ dùng thuốc lần thứ hai, thì phải xác định rằng không mang thai trước khi tiếp tục dùng thuốc ngừa thai.

Thận trọng lúc dùng:

Khám lâm sàng và theo dõi:

Trước khi bắt đầu dùng thuốc ngừa thai, phải tiến hành lấy tiền sử chi tiết gia đình và cá nhân, tiến hành và lặp lại định kỳ khám lâm sàng và phụ khoa gồm đo huyết áp, xét nghiệm, khám chậu nhỏ và vú và sinh thiết âm đạo.
Phải bảo bệnh nhân rằng thuốc này không chống được nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.

Chức năng gan:

Trong trường hợp suy gan cấp hoặc mạn, phải ngừng thuốc ngay cho đến khi test chức năng gan trở về bình thường. Ở những bệnh nhân suy gan, sự chuyển hóa các hormon sinh dục có thể kém.

Rối loạn tâm thần:

Những người bị trầm cảm trầm trọng trong khi dùng thuốc ngừa thai phải ngừng thuốc ngay và đổi qua biện pháp ngừa thai khác, xác định xem những triệu chứng này có phải do thuốc ngừa thai uống gây ra không. Những người đã từng bị trầm cảm phải được giám sát kỹ và ngừng dùng thuốc ngừa thai nếu những triệu chứng trầm cảm tái phát.

Hàm lượng folate:

Hàm lượng folate trong huyết thanh có thể giảm do dùng thuốc ngừa thai. Điều này có tầm quan trọng lâm sàng, nếu một người có thai ngay sau khi ngừng thuốc ngừa thai.

Những vấn đề khác:

Ngoài những rối loạn trên, cần cảnh giác cao trong trường hợp xơ cứng tai, đa xơ vữa, động kinh, múa giật thể nhỏ, porphyrin niệu cách hồi, uốn ván, suy thận, béo phì, lupus đỏ hệ thống, u cơ tử cung.
Tránh dùng đồng thời Lindynette 20 hay Lindynette 30 với thảo dược chứa Hypericum perforatum (cỏ St.John) vì có thể làm giảm hàm lượng huyết tương của Lindynette 20 hay Lindynette 30 dẫn đến giảm hiệu quả ngừa thai (xem Tương tác thuốc).

LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ

Lúc có thai:

Nghiên cứu dịch tễ học mở rộng cho thấy, dùng thuốc ngừa thai trước khi mang thai không làm tăng các dị dạng trẻ sơ sinh. Không phát hiện tác động gây quái thai (kể cả những bất thường tim và các dị dạng bẩm sinh như tay ngắn) trong trường hợp người phụ nữ mang thai đã dùng thuốc ngừa thai trong giai đoạn đầu của thai kỳ (xem Chống chỉ định).

Lúc nuôi con bú:

Thuốc ngừa thai uống có thể làm giảm tiết sữa và thay đổi thành phần sữa, ngoài ra thuốc cũng đi vào sữa mẹ, vì thế không nên dùng thuốc trong thời kỳ này.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Tương tác thuốc:

Tương tác với những thuốc khác:
Việc dùng đồng thời với rifampicin có thể dẫn đến giảm hiệu quả ngừa thai và tăng tần suất xuất huyết thất thường lẫn rối loạn kinh nguyệt. Một mối liên hệ tương đương, nhưng ít rõ ràng hơn, cũng thấy với barbiturat, phenylbutazone, phenytoin và có thể là griseofulvin, ampicillin và tetracycline. Đối với những người dùng đồng thời những chế phẩm trên với thuốc ngừa thai, nên dùng thêm biện pháp ngừa thai không hormon (bao cao su, thuốc diệt tinh trùng) trong những ngày dùng thuốc và 7 ngày sau đó.

Trong trường hợp rifampicin, phương pháp ngừa thai thêm nên được áp dụng trong 4 tuần sau khi ngừng điều trị.

Tương tác trong hấp thu:

Tiêu chảy có thể làm tăng nhu động ruột và làm giảm hấp thu hormon. Tương tự, một thuốc làm giảm thời gian lưu trong ruột, có thể làm giảm nồng độ hormon trong máu.

Tương tác trong chuyển hóa:

Thành ruột: Người ta đã chứng minh rằng sự sulphat hóa ethinylestradiol xảy ra ở thành ruột. Vì thế, các thuốc cạnh tranh sulphat hóa ở thành ruột sẽ làm tăng sinh khả dụng của ethinylestradiol (như acid ascorbic).

Chuyển hóa qua gan: Sự tương tác có thể xảy ra với những thuốc gây cảm ứng men microsome, qua đó làm giảm nồng độ ethinylestradiol (như rifampicin, barbiturat, phenylbutazone, phenytoin, griseofulvin, topiramat). Sự tương tác cũng có thể xảy ra với những thuốc ức chế men microsome (như itraconazole, fluconazole) qua đó làm tăng nồng độ ethinylestradiol.

Tác động lên tuần hoàn gan ruột: Vài báo cáo lâm sàng chỉ ra rằng tuần hoàn gan ruột của estrogen có thể giảm bởi một số kháng sinh, làm giảm nồng độ ethinylestradiol (như ampicillin, tetracyclin).

Tác dụng lên chuyển hóa các thuốc khác: Ethinylestradiol có thể ảnh hưởng lên chuyển hóa những thuốc khác bằng cách ức chế men microsome gan hoặc tạo ra liên hợp thuốc ở gan, đặc biệt là liên hợp glucuronid dẫn đến việc làm tăng hoặc giảm nồng độ trong mô và huyết tương của một số thuốc dùng đồng thời (như cyclosporin, theophyllin).

Không nên dùng đồng thời chế phẩm thảo dược như cỏ St.John (Hypericum perforatum) với Lindynette 20 hay Lindynette 30 vì có thể làm giảm hiệu quả ngừa thai của thuốc này và có thể gặp xuất huyết bất thường và thai ngoài ý muốn. Điều này là do cỏ St.John gây cảm ứng các men chuyển hóa thuốc. Tác động gây cảm ứng có thể kéo dài trong ít nhất 2 tuần sau khi ngừng điều trị cỏ St.John.
Dùng đồng thời ritonavir với thuốc ngừa thai kết hợp làm giảm trị số AUC trung bình của ethinylestradiol gần 41%, vì thế nên xem xét dùng thuốc ngừa thai uống có liều ethinylestradiol cao hơn, hoặc biện pháp thay thế, ngừa thai không hormon.

Thay đổi những trị số xét nghiệm:

Việc dùng những viên thuốc ngừa thai uống có thể ảnh hưởng đến những kết quả xét nghiệm ví dụ như các test chức năng gan, giáp, thượng thận và thận, nồng độ huyết tương của lipoprotein và protein mang, những tham số chuyển hóa carbohydrat, đông máu, tiêu fibrin.
Các thay đổi thường vẫn còn nằm trong giới hạn bình thường.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Trong những chu kỳ dùng thuốc đầu tiên, 10-30% người dùng có thể gặp vài tác dụng phụ, như nhũn vú, khó chịu và ra kinh lấm tấm. Những tác dụng phụ này thường nhẹ và biến mất trong vòng 2-4 chu kỳ.

Các tác dụng bất lợi và trầm trọng khác:

Xem thêm trong mục Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng.
Có thể gặp các tác dụng phụ sau đây ở những người dùng viên thuốc ngừa thai: buồn nôn, nôn, nhức đầu, nhũn vú, thay đổi thể trọng và dục năng, trầm cảm, nám mặt, rối loạn kinh nguyệt, khó chịu khi dùng kính áp tròng.

Hiếm gặp các tác dụng phụ sau: tăng triglycerid và hàm lượng đường huyết, giảm dung nạp glucose, tăng huyết áp, huyết khối thuyên tắc mạch, viêm gan, u tuyến gan, bệnh túi mật, vàng da, nổi mẩn, rụng tóc, thay đổi tiết dịch cổ tử cung, candida âm đạo, mệt mỏi bất thường và tiêu chảy.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Liều lượng:

Dùng mỗi ngày 1 viên liên tục trong 21 ngày (tốt nhất là vào cùng giờ mỗi ngày). Tiếp theo là 7 ngày không dùng thuốc, trong thời gian này sẽ hành kinh. Dùng vỉ tiếp theo vào ngày thứ 8, sau 7 ngày nghỉ (trùng với ngày trong tuần dùng viên đầu tiên, sau 4 tuần).

Cách dùng:

Lần đầu tiên dùng thuốc ngừa thai:

Bắt đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30 vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt.

Đổi từ một loại thuốc ngừa thai kết hợp khác sang Lindynette 20 hay Lindynette 30:Phải uống viên đầu tiên của vỉ Lindynette 20 hay Lindynette 30 vào ngày hành kinh đầu tiên sau khi ngừng dùng loại thuốc ngừa thai trước đó.

Đổi từ loại thuốc ngừa thai chỉ chứa progesteron (thuốc viên, thuốc tiêm hoặc thuốc cấy) sang viên bao Lindynette 20 hay Lindynette 30:Vào bất kỳ ngày nào trong chu kỳ kinh nguyệt, sau khi ngừng uống viên chỉ chứa progestogen, bắt đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30. Sau ngày lấy viên thuốc cấy progesteron ra bắt đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30. Đối với progesteron tiêm, thay vì tiêm liều kế tiếp, bắt đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30.

Trong những trường hợp trên, cần áp dụng thêm những biện pháp ngừa thai khác trong 7 ngày đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30.

Xảy thai hoặc nạo thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ:

Sau khi xảy thai hoặc nạo thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể bắt đầu dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30 ngay. Không cần dùng thêm biện pháp ngừa thai khác.

Sau sinh hoặc xảy thai trong 3 tháng thứ hai của thai kỳ:

Việc dùng thuốc trong thời gian nuôi con bú - xem phần Lúc có thai và Lúc nuôi con bú.
Sau khi sinh hoặc xảy thai, nếu người mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ thì có thể bắt đầu dùng thuốc uống ngừa thai vào ngày thứ 21 đến 28 sau sinh hoặc xảy thai. Nếu bắt đầu dùng thuốc ngừa thai uống muộn hơn, cần dùng thêm một trong những biện pháp ngừa thai màng chắn, trong 7 ngày đầu.
Nếu đã giao hợp sau sinh, chỉ dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30 nếu chắc chắn rằng không có thai hoặc nên hoãn dùng thuốc cho đến kỳ hành kinh đầu tiên.

Quên uống thuốc:

Nếu quên uống thuốc vào giờ thường lệ, khi nhớ ra phải uống ngay trong vòng 12 giờ, hiệu quả ngừa thai không bị giảm và không cần dùng thêm biện pháp ngừa thai nào khác. Viên kế tiếp được uống vào giờ thường lệ.

Nếu quên uống thuốc quá 12 giờ, tác dụng ngừa thai có thể giảm.
Trong trường hợp này, người dùng không nên uống ngay (những) viên đã quên mà phải đợi đến giờ thường lệ mới uống (những) viên này. Trong trường hợp này phải dùng thêm biện pháp ngừa thai khác trong 7 ngày dùng thuốc kế tiếp.

Nếu 7 ngày này vượt qua viên cuối cùng của vỉ thuốc đang dùng, phải uống luôn những viên của vỉ kế tiếp không cần khoảng nghỉ giữa 2 vỉ. Điều này có nghĩa là sẽ không gặp kinh nguyệt cho đến cuối vỉ thứ hai mà chỉ gặp xuất huyết lấm tấm và xuất huyết không theo chu kỳ.
Nếu không gặp kinh nguyệt sau khi uống xong vỉ thứ hai, phải xác định rằng không mang thai mới tiếp tục dùng vỉ kế tiếp.

Những điều cần làm trong trường hợp nôn:

Nếu nôn trong vòng 3-4 giờ sau khi dùng thuốc, sự hấp thu thuốc có thể giảm. Trong trường hợp này, nên áp dụng những cảnh báo về quên uống thuốc trong đoạn 4.2.2. Nếu người phụ nữ này không muốn xáo trộn lịch dùng thuốc, bà có thể dùng những viên bổ sung từ vỉ khác.

Tạo hoặc hoãn một kỳ kinh:

Để tạo một kỳ kinh bắt đầu vào ngày sớm hơn trong tuần so với thường lệ, bạn nên rút ngắn những ngày không dùng thuốc sắp đến theo số ngày bạn muốn. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng số ngày không dùng thuốc càng ngắn, thì nguy cơ không hành kinh, và chỉ gặp xuất huyết không theo chu kỳ kinh hoặc xuất huyết lấm tấm trong khi dùng những viên thuốc của vỉ kế tiếp càng cao (giống như trong trường hợp trễ kinh).

Để hoãn một kỳ kinh, phải bắt đầu dùng vỉ Lindynette 20 hay Lindynette 30 mới sau khi uống xong vỉ hiện tại, không có khoảng nghỉ giữa hai vỉ. Có thể hoãn hành kinh cho đến hết vỉ thứ hai. Trong khi dùng vỉ thứ hai này có thể gặp xuất huyết không theo chu kỳ hoặc xuất huyết lấm tấm. Việc dùng Lindynette 20 hay Lindynette 30 như thường lệ có thể được tiếp tục sau 7 ngày nghỉ như thường lệ.

QUÁ LIỀU

Không gặp tác dụng bất lợi trầm trọng nào khi quá liều. Những triệu chứng này có thể là buồn nôn, nôn và ở những cô gái trẻ là xuất huyết ít ở âm đạo.
Không có thuốc giải độc, nên điều trị triệu chứng.

BẢO QUẢN

Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30 độ C.

Các loại khác:
1. CHIP - CHIPS || 2. YAZ || 3. Yasmin || 4. Tri-Regol || 5. Rigevidon 21+7 || 6. REGULON || 7. Postinor-2 || 8. Novynette || 9. Mercilon || 10. MEDONOR || 11. Marvelon || 12. MEDONOR || 13. Naphanor || 14. LINDYNETTE 20 || 15. Lovechoice || 16. Naphaceptive || 17. Naphalevo
Danh sách các thuốc khác
Bao hiem online,cong ty bao hiem    |    Thuoc nam chua tien liet tuyen    |    Thuoc nam chua da day    |    thuoc nam chua soi than    |    Tiểu đường    |    Tiểu đường    |    Viêm gan    |    Cây thuốc nam    |    Bảo Kỳ Nam thuốc nam    |    Hàng nhập khẩu châu âu Son color 8
- Các thông tin về thuốc trên chothuoc24h chỉ mang tính chất tham khảo, Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chothuoc24h - Mang đến cho bạn SỨC KHỎE – HẠNH PHÚC – THÀNH CÔNG
- Giấy phép số: 32/GP-TTĐT của Bộ Thông tin và truyền thông
- Email:QuangCao@ChoThuoc24h.Com, info@ChoThuoc24H.Net, ChoThuoc24h

ASG Vietnam