Nhiễm khuẩn đường mật mạn tính
Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ.
Cách trị: Sơ can lý khí, hành ứ tiêu đản.
Đơn thuốc: Sài hồ nga truật thang.
Công thức: Sài hồ 12g, Bạch thược 12g, Thanh bì 10g, Thái tử sâm
30g, Nga truật 12g.
Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Lưỡi đỏ rêu vàng có thể thêm Kim tiền thảo,
Nhân trần, Đại hoàng.
Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nữ, 34 tuổi, công nhân, sơ chẩn ngày
10/1/1976. Mười nǎm trước, bệnh nhân bị sỏi mật nên cắt bỏ túi mật, sau
đó thỉnh thỏang phát sốt, sớn lạnh, phía phải bụng trên khó chịu, mắt
vàng, đái vàng. Mỗi lần điều trị bằng thuốc thanh nhiệt lợi đởm có chuyển
biến tốt, nhưng ít lâu sau lại tái phát, bệnh nhân kêu tinh thần mệt mỏi,
kém ǎn đại tiện lúc lỏng lúc đặc, miệng khô đắng, tiểu tiện hơi vàng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch huyền. Bụng trên ấn đau không rõ rệt. Chụp
đường mật không thấy sỏi đó là đảm lạc ứ trệ không được thanh lọc. Cho
dùng Sài hồ nga truật thang, uống liền 7 thang, hết hẳn đau bụng, các chứng
khác giảm nhiều, bệnh nhân ra viện, sau đó có uống mấy thang nữa, bệnh khỏi
hoàn toàn. Theo dõi mấy nǎm chưa thấy tái phát.
Bàn luận: Bệnh "đản" có phân biệt âm hoàng và dương
hoàng, có chia ra tại tạng tại phủ. Có người nói: "hoàng nói chung là
thuộc người thấp nhiệt" như thế là sai. Cần biết "bệnh ở bách
mạch, ứ nhiệt ở lý", sắc bại thì thấy vàng. Thân nhiệt náu ở huyết,
là sản phẩm khổ hàn, lại có cái hại lưu ứ. Vì vậy trị hoàng thì trước
hết phải trị huyết mà hành rồi thì hoàng tự nhiên tiêu là lẽ chẳng cần
bàn cãi. Phép hành ứ tiêu đản có cǎn cứ ở sách vở. Lấy lý khí hành
huyết, phối giáng ôn thông dùng đẻ trị sỏi mật, làm mãi càng nghiệm.
Người xưa nói "bệnh lâu thì ứ nhiều" phàm điều trị mãi mà không
khỏi là phần lớn liên quan đến huyết ứ do đó thường trên cơ sở biện
chứng dùng thuốc, nên coi trọng sự hoạt huyết hóa ứ, huyết mà dùng phép sơ
can lý nhiệt không hiệu quả, thì thêm thuốc trị phần huyết, thường có công
hiệu. Trong bài Sài hồ nga trật thang có Sài hồ để thǎng phát mộc uất đối
với bệnh khổ mạn sườn ngực do can khí uất trệ và các chứng hàn nhiệt do
uất khí huyết lâu ngày thì rất hợp, mà lại sợ làm cho can mộc hoạt động
lên, do đó đem các chất toan thu của Bạch thược nhập vào can kinh; còn Thanh
bì lợi khí, Sài hồ tán khí do đó dùng Thái tử sâm để chế tính lợi tính
tán của chúng; dùng Nga truật để phá huyết ở trong khí, tiêu tích thông
lạc, tuy là thuốc tiết, nhưng cũng có thể ích khí, giúp cho sự tiêu trừ ứ
trệ.