Lao màng bụng
Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ngưng, làm tắc kinh lạc, kinh
thủy không hành, huyết hóa thanh thủy, làm thành trướng thủy trong bụng.
Cách trị: Công trục lợi thủy, tiêu ứ thông lạc.
Đơn thuốc: Sơ tạc ẩm tử.
Công thức: Khương hoạt 9g, Tần giao 9g, Trạch tả 9g, Tiêu mục 8g,
Xích tiểu đậu 12g, Đại phúc bì 15g, Phục linh bì 15g, Bình lang 6g, Thương
lục 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Khi công bất lợi, có thể thêm Khiên ngưu
tử, Cam toại, hoặc phối hợp với các vị thuốc tiêu ứ như Đào nhân, Hồng
hoa, Đan sâm, Xích thược, Đan bì, Quy vĩ, Ngũ linh chi, Sinh bổ hoàng, Hương
phụ.
Hiệu quả lâm sàng: Diệp XX, nữ, 25 tuổi, xã viên, vào viện ngày
15-5-1973. Đã một nǎm nay bệnh nhân nhiều lần bị trướng bụng, sốt dài ngày,
ra mồ hôi trộm, chóng mặt váng vất, kém ǎn mệt mỏi, ngày một gầy đi,
thường chảy máu cam, miệng khô khát, đái ít mà nước tiểu đỏ đặc như
nước chè, đại tiện khô táo, vón cục như phân dê, sắc mặt trắng bệch, hai
gò má lồi ra, hốc mắt quầng thâm, tay chân khô và có vết sưng, bụng như
cái chum gân xanh nổi rõ, chất lưỡi đỏ sẫm, trên lưỡi có 3 vết tím, rêu
bẩn mỏng vàng, mạch trầm, ráp. Đã kiểm tra tây y, thấy tình trạng bệnh mạn
tính, sắc diện thiếu máu, thần sắc vẫn tỉnh táo, dưới cổ bên phải có một
khối sưng to bằng quả bóng bàn, có bờ rõ ràng, hoạt động hơi kém, hai bên
cổ đều có hạch lymphô nông, bụng bên phải sờ thấy 5-6 hạch hymphô bằng cỡ
hạt đậu tương. Bụng trướng to, thành bụng thấy rõ các tĩnh mạch phập
phồng, thấy rõ trong bụng có báng nước, sờ thấy lách phù, hai chân đều phù
ấn lõm (++). Chiếu điện thấy tim to ra về hai phía, hai bên cơ hoành nhô lên
cao, phổi bình thường. Chức nǎng gan bình thường. Huyết trầm 26mm/giờ, bạch
cầu 10.000/mm3, hồng cầu 2. 900 000/mm3, huyết sắc tố 79%, phân loại bạch cầu
trung tính 78%,, lymphô 22%, kiểm tra tủy xương thấy tủy xương thiếu máy tǎng
sinh nhẹ. Thǎm dò bệnh lý hạch lymphô vùng bụng xác định lao hạch. Nước
trong bụng: nhìn bên ngoài mày vàng nhạt, hơi đục, số tế bào 212/ mm3, thử
nghiệm rivalta dương tính. Quá trình nằm viện, trước tiên dùng kháng sinh,
giảm sốt nhưng bụng báng nước và tình trạng toàn thân vẫn không thấy có
chuyển biến gì, toàn thân mệt mỏi cực độ nằm li bì không dậy được. Hạ
tuần tháng 9 tới chẩn trị đông y, dùng bài thuốc dưỡng âm ích khí hoạt
huyết thông lạc, nhưng bệnh tình vẫn chưa thấy giảm. Ngày 15 tháng 10 chúng
tôi tiếp nhận để chữa trị tiếp, cho dùng "Sơ tạc ẩm tử". Đầu
tiên thấy đại tiểu tiện nhiều hơn, bụng đã giảm báng nước. Sau khi bụng
hết báng nước, dùng Bát trân thang bổ ích khí huyết để tấn công toàn
diện. Ngày 18-1-1974 bệnh nhân mạnh khỏe và ra viện. Trước khi ra viện đã bị
mất kinh gần 9 tháng, giờ đây đã có kinh trở lại.