|
Gầy đét do suy sinh dưỡng
Gầy đét do suy sinh dưỡng
Biện chứng đông y: Tì khí khuy tồn lâu ngày, khí huyết cực hư,
nguyên dương muốn thoát.
Cách trị: ích khí
dưỡng huyết, ôn thận trợ dương.
Đơn thuốc: ích
khí dưỡng huyết cứu thoát thang gia vị.
Công thức: Toan táo nhân (sao) 36g, Hà thủ ô (chế) 9g, Ngọc trúc 9g,
Phụ tử (chín) 12g, Thỏ ti tử (sống) 24g, Hoàng kỳ (chích) 12g, Bạch truật (sao)
15g, Qui thân 9g. Đan sâm 12g, Bá tử nhân 12g, Sa nhân 9g, ích trí nhân 9g, Phúc bồn tử 12g, Kê
huyết đằng 9g, Trúc nhự 9g, Hồng hoa 6g.
Sắc hai nước tổng cộng lấy 250 ml, chia uống hai lần mỗi ngày một thang, cứ
uống 3 thang thì ngừng uống một ngày.
Hiệu quả lâm sàng: Thiệu X, nữ 27 tuổi, sơ chẩn ngày 26-11-1961.
Đầu nǎm bệnh nhân có cảm giác mệt mỏi, tứ chi bải hỏai, chân yếu hay ngã,
tay cầm hay rơi. Sau đó người gầy mòn dần, mệt yếu, thích ngủ, sợ lạnh, tay
chân tê, bắp chân thường bị chuột rút.
Từ sau tháng 5 xuất hiện phù từ bàn chân lên dần đến chi dưới, tay mặt,
lúc nặng thì hai mắt híp lại. Ngoài ra thì ǎn nhiều, đái vặt, đái gấp. Sau
khi hết phù thì gầy rạc. Đã hai lần điều trị ở bệnh viện công xã, không
có kết quả, xin điều trị bằng đông y. Bệnh nhân kể thấy kinh lần đầu nǎm
14 tuổi, lấy chồng nǎm 17 tuổi, đã mang thai 4 lần, 3 lần trước đẻ non, lần
thứ 4 sinh một con trai đã 5 tuổi, khỏe mạnh. Đẻ đã quá 5 nǎm mà chưa thấy
kinh trở lại. Kiểm tra thấy phát triển bình thường, dinh dưỡng rất kém, sắc
mặt vàng vọt gầy võ, người cao 158cm, thể trọng 36,5 kg. Tinh thần không phấn
chấn, da khô không sǎn. Thân nhiệt 36o C mạch đập 72 lần/phút, thở
18 lần/phút, huyết áp 106/74 mmhg, bạch cầu 8000/mm3, hồng cầu 2800000/mm3, huyết
sắc tố 7g%, protein huyết tương toàn phần 4,6g%, albumin 3,1%, globulin 1,5g%.
Kiểm tra điện tâm đồ thấy kali huyết quá thấp. Chẩn đoán lâm sàng là gầy
đét do suy dinh dưỡng, đã dùng thuốc nhiều ngày không có tác dụng. Hiện nay
khám thấy bệnh nhân hết sức mệt mỏi, tứ chi uể oải không có sức, cánh tay
không đưa lên nổi, cổ mềm rũ không ngẩng dược đầu, hơi thở ngắn, thở
một cách phí sức, không thể chủ động ỉa đái, toàn thân đau đớn, tâm
tình trầm lặng, thỉnh thỏang chảy nước mắt. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi
trắng hơi bẩn, mạch trầm tế. Các chứng từ tì khí khuy tổn lâu ngày, khí
huyết hư cực, nguyên dương muốn thoát. Muốn trị thì cần mau mau ích khí
dưỡng huyết, ôn thận trợ dương. Cho dùng ích khí dưỡng huyết cứu thoát
thang gia ị. Dùng thêm Nhân sâm 2g, Hổ phách 0,9g, cùng nghiền thành bột mịn
chia hai lần uống với nước thuốc. Sau khi uống 6 thang, bệnh có chuyển biến
tốt rõ rệt, tinh thần, ǎn uống ngủ đều đã trở lại bình thường, thở đã
thông, đại tiểu tiện bình thường, đã có thể xuống đất hoạt động nhưng
vẫn còn cảm thấy mệt nhọc, ngồi xổm xuống không đứng dậy nổi. Vẫn cho dùng
bài trên, có gia giảm, ngoài ra lại phối hợp dùng viên hoàn chế bằng các vị
ôn dưỡng huyết mạch hòa huyết điều kinh. Bài này gồm: Hoàng kỳ (chích) 42g,
Đảng sâm 42g, Đương qui 36g, Thục địa 42g, Sơn dược 24g, Sơn thù du 24g,
Đan bì 18g, Vân linh 18g, Trạch tả 18g, Nhục quế 12g, Phụ tử (chính) 12g, Bạch
truật (sống) 26g, Đan sâm 42g, Nguyên hồ 30g, Miết giáp (sống) 24g, Kê huyết
đằng 90g, Hồng hoa 24g, Sa nhân 24g, Thỏ ti tử (sống) 26g, Hà thủ ô (chế) 30g,
Thiên niên kiện 36g, Cẩu tích (bỏ lông) 48g, tán tất cả thành bột thật mịn,
dùng nước chế thành hoàn nhỏ, sấy khô bỏ lọ, sau bữa ǎn sáng nửa giờ uống
một lần, 3 giờ chiều uống một lần, tối trước khi đi ngủ uống một lần, mỗi
lần 9g. Uống thuốc 1 tuần ngừng 1 ngày. Trước sau 9 lần khám. Trong quá trình
chữa bệnh, khi kali huyết giảm thấp thì cho bổ sung clorua kali cùng với các
loại vitamin, còn thuốc thang có gia giảm đôi chút. Bệnh tình tốt dần. Ngày
28-3-1962 kiểm tra thấy huyết sắc tố 9g%, protein toàn phần huyết tương 6,4g%,
ablumin 44g%, globulin 2,0g%; ngày 14-5 kiểm tra lại thấy huyết sắc tố 10,5g%,
hồng cầu 3 750 000/mm. Ngày 16-5, khi xuất viện, ǎn ngon, mỗi ngày ǎn hơn nửa
kg lương thực, thể trọng tǎng tới 44kg.
|